Ba nhóm "điểm nghẽn" lớn
Đồng hành cùng doanh nghiệp (DN), kiến nghị tháo gỡ các vướng mắc về thể chế, chiều 8.6, Báo Thanh Niên đã tổ chức hội thảo "Mở khóa tăng trưởng - Động lực từ kinh tế tư nhân (KTTN)".

Các diễn giả tham gia phiên thảo luận
ẢNH: TUẤN MINH
Khai mạc hội thảo, nhà báo Trần Việt Hưng, Phó tổng biên tập Báo Thanh Niên, cho biết để hiện thực hóa tầm nhìn 2045 và đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình, T.Ư Đảng đã đặt ra mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026 - 2030. Theo các tính toán, để tăng trưởng 2 con số, quy mô vốn đầu tư toàn xã hội cần huy động lên tới khoảng 38,5 triệu tỉ đồng.
Tuy nhiên, nguồn ngân sách nhà nước dù có nỗ lực đến đâu cũng chỉ đáp ứng được tối đa khoảng 8,5 triệu tỉ đồng (chiếm từ 20 - 22% tổng nhu cầu). Phần lớn nguồn lực khổng lồ còn lại bắt buộc phải được khơi thông từ khu vực KTTN. Song thực tế cho thấy, khu vực KTTN vẫn đang đối diện với nhiều điểm nghẽn mang tính cấu trúc nên chưa thể giải phóng hết tiềm năng vốn có.
Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để DN tư nhân VN thực sự "trưởng thành", nâng cao năng lực nội tại, tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu, đóng góp xứng đáng vào mục tiêu tăng trưởng 2 chữ số của đất nước?

Nhà báo Trần Việt Hưng, Phó tổng biên tập Báo Thanh Niên, phát biểu tại hội thảo
ẢNH: TUẤN MINH
Phát biểu đề dẫn, TS Nguyễn Mạnh Hùng, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính Quốc hội, chỉ ra ba nhóm điểm nghẽn lớn đang cản trở khu vực KTTN phát triển. Một là nghịch lý khi nền kinh tế không thiếu vốn, nhưng DN lại khó tiếp cận. Các kênh vốn trung và dài hạn như thị trường trái phiếu DN, quỹ đầu tư hay các định chế tài chính trung gian phát triển chưa tương xứng. Theo ông, phần lớn DN tư nhân, đặc biệt là DN nhỏ và vừa, vẫn khó tiếp cận tín dụng do thiếu tài sản bảo đảm, thiếu minh bạch tài chính và hạn chế về năng lực quản trị.
Hai là điểm nghẽn về thể chế và thủ tục hành chính. Thủ tục còn kéo dài, một số quy định còn chồng chéo, thiếu thống nhất; cùng với tâm lý e ngại, thận trọng trong thực thi công vụ đã ảnh hưởng đến tiến độ triển khai của nhiều dự án. "Điều DN cần không chỉ là ưu đãi, mà quan trọng hơn là một môi trường pháp lý ổn định, minh bạch, có thể dự báo và thực thi nhất quán. Một nền kinh tế muốn bứt phá tốc độ thì hệ thống quản lý và thực thi thủ tục cũng cần phải chuyển động đồng tốc, hiệu quả và an toàn", ông Hùng nêu.

Ông Võ Anh Tuấn, Phó cục trưởng Cục Quản lý đất đai, Bộ NN-MT
ẢNH: TUẤN MINH
Và cuối cùng là điểm nghẽn tiếp cận đất đai và các chính sách hỗ trợ phát triển, nhất là với DN nhỏ và vừa. Theo ông Hùng, Nhà nước phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển; không chỉ ban hành chủ trương đúng mà phải tổ chức thực thi hiệu quả, tháo gỡ thực chất các rào cản về thể chế, thủ tục và tiếp cận nguồn lực phát triển. Chiều ngược lại, bản thân DN cũng cần nâng cao năng lực quản trị, minh bạch tài chính, đầu tư cho công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Khơi thông dòng vốn vào bất động sản
Tại phiên thảo luận về tháo gỡ nguồn lực, GS-TS Hoàng Văn Cường, Phó chủ tịch Hội Khoa học kinh tế VN, cho biết tăng trưởng đang trông chờ vào động lực mới là KH-CN, nhưng cần "độ trễ" vài năm. Để tăng trưởng ngay vẫn cần dựa vào các động lực truyền thống như xuất khẩu, tiêu dùng, đầu tư. Đặc biệt, trong lĩnh vực đầu tư, ngoài việc tăng đầu tư công thì phải có đầu tư tư nhân và lĩnh vực mà tiền đổ vào nhiều nhất, nhanh tạo ra sản phẩm nhất ở đầu tư tư nhân chính là lĩnh vực bất động sản (BĐS). "Đây sẽ là khu vực thu hút vốn rất lớn và có sự lan tỏa rất lớn cho nền kinh tế, lan tỏa đến các lĩnh vực khác, như xây dựng, máy móc, thị trường lao động… từ đó thúc đẩy tăng trưởng", ông Cường dẫn giải.

Bà Hoàng Thu Hằng, Phó cục trưởng Cục Quản lý nhà và thị trường BĐS (Bộ Xây dựng)
ẢNH: TUẤN MINH
Trước băn khoăn khi dòng vốn đổ về BĐS quá nhiều, chuyên gia này cho rằng nếu dòng tiền vào BĐS rồi quay lại thị trường và tiêu dùng thì "không vấn đề gì". Chỉ đáng lo ngại là khi đầu tư quá mức, sản phẩm không tiêu thụ được và bị chuyển thành BĐS tồn kho. Theo đó, tồn kho từ phía DN không bán được hàng, hoặc người mua xong để đó không sử dụng. Mức độ tồn kho trên 30% thì bắt đầu có dấu hiệu cảnh báo. "Dòng vốn đổ vào BĐS nhiều hay ít không phải là vấn đề. Đây là yếu tố thúc đẩy tăng trưởng, nhưng phải có sự kiểm soát để không xảy ra đình trệ, khủng hoảng nguồn vốn", GS-TS Hoàng Văn Cường lưu ý.
Cùng quan điểm, bà Hoàng Thu Hằng, Phó cục trưởng Cục Quản lý nhà và thị trường BĐS (Bộ Xây dựng), cho rằng vấn đề không chỉ nằm ở quy mô dòng vốn mà quan trọng hơn là làm thế nào để dòng vốn đó được lưu thông hiệu quả trong nền kinh tế. Bất cập lớn của thị trường hiện nay là sự lệch pha cung - cầu kéo dài. Trong khi nguồn cung nhà ở cao cấp vẫn chiếm tỷ trọng lớn thì phân khúc nhà ở phù hợp với khả năng chi trả của đại đa số người dân lại thiếu hụt nghiêm trọng. Để thị trường BĐS phát triển lành mạnh, thúc đẩy tăng trưởng đồng thời người dân thực sự có nhu cầu tiếp cận được nhà ở, bà Hằng cho biết Bộ Xây dựng đang phối hợp với các bộ ngành, địa phương triển khai nhiều giải pháp. Trong đó, tập trung nghiên cứu, hoàn thiện hồ sơ dự án luật Nhà ở (sửa đổi), luật Kinh doanh BĐS (sửa đổi) để trình Chính phủ và trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 2 vào tháng 10.2026.

Các diễn giả tham gia phiên thảo luận tại hội thảo “Mở khóa tăng trưởng - Động lực từ kinh tế tư nhân”do Báo Thanh Niên tổ chức ngày 8.6 tại Hà Nội
ẢNH: TUẤN MINH
Đặc biệt, xử lý dứt điểm các dự án BĐS tồn đọng, kéo dài để khơi thông nguồn lực. Theo thống kê của Ban chỉ đạo 751, có tổng số 4.489 dự án có khó khăn vướng mắc, tồn đọng, tổng mức hơn 3,3 triệu tỉ đồng. Tính đến nay, toàn quốc đã xử lý, tháo gỡ và không còn khó khăn, vướng mắc được 1.022 dự án (hơn 800.000 tỉ đồng). "Việc xử lý các dự án bị ách tắc nhiều năm không chỉ giúp giải phóng nguồn lực xã hội mà còn bổ sung nguồn cung cho thị trường, góp phần kéo giảm giá nhà và nâng cao khả năng tiếp cận nhà ở của người dân", bà Hằng nói.
Một giải pháp quan trọng khác là đẩy mạnh ứng dụng KH-CN và chuyển đổi số nhằm tăng tính minh bạch của thị trường BĐS. Bộ Xây dựng đã tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định 357 và đang khẩn trương hoàn thiện hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường BĐS. "Mỗi BĐS sẽ được cấp một mã định danh, người dân và nhà đầu tư có thể tra cứu đầy đủ thông tin về pháp lý, quyền sử dụng đất, điều kiện giao dịch, lịch sử mua bán cũng như diễn biến giá. Việc công khai dữ liệu được kỳ vọng sẽ giúp thị trường vận hành minh bạch hơn, hạn chế đầu cơ và giảm rủi ro cho nhà đầu tư", bà Hằng thông tin.
Liên quan chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước về phát triển nhà ở cho thuê, bà Hằng cho biết Bộ Xây dựng đang nghiên cứu sửa đổi các chính sách, tập trung vào cơ chế ưu đãi về đất đai, thuế và tín dụng nhằm thu hút DN tham gia phát triển nhà ở cho thuê. "Mục tiêu là tăng nguồn cung nhà ở với chi phí phù hợp, giúp người dân có thêm lựa chọn, đặc biệt là công nhân, người lao động, cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Khi chưa đủ điều kiện mua nhà, họ vẫn có thể tiếp cận chỗ ở ổn định thông qua hình thức thuê", bà Hằng nhấn mạnh. Bộ Xây dựng cũng sẽ tiếp tục phát triển dự án 1 triệu căn hộ cho thuê, cố gắng trong năm 2026 phải hoàn thành được khoảng 158.000 căn nhà ở xã hội.
Xóa các dự án treo
Thực tế cho thấy, một lượng vốn khổng lồ của khu vực tư nhân và nền kinh tế đang bị "chôn" trong các dự án BĐS treo, các quỹ đất vướng mắc pháp lý, nằm trong các kết luận thanh tra, kiểm tra hoặc bản án kéo dài. Chia sẻ về tình trạng này, ông Võ Anh Tuấn, Phó cục trưởng Cục Quản lý đất đai, Bộ NN-MT, thẳng thắn cho biết "đây là sự lãng phí lớn". Yêu cầu đặt ra là phải sớm đưa các dự án ra thị trường, góp phần đưa cung - cầu gặp nhau.
Bộ NN-MT đã tham mưu, trình ban hành nhiều cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ cho các dự án trên. Hiện các địa phương đang rất tích cực, quyết liệt rà soát những dự án BĐS treo, các quỹ đất vướng mắc pháp lý, nằm trong các kết luận thanh tra, kiểm tra hoặc bản án kéo dài, để từ đó phân loại, có hướng xử lý phù hợp. Nhấn mạnh "tinh thần không cầu toàn", đại diện Bộ NN-MT cho biết sẽ không đặt nặng yêu cầu phải giải quyết cùng lúc toàn bộ dự án mà sẽ có sự phân loại thành phần để đưa ra giải pháp tương ứng. Chẳng hạn với hàng ngàn dự án thì phải xác định dự án nào sai về mặt trình tự, thủ tục, chậm tiến độ, vi phạm về tiền sử dụng đất; nguyên nhân do khách quan hay chủ quan…
"Nguyên tắc là không hợp thức hóa sai phạm, nhưng đảm bảo cái gì có thể giải quyết ngay được thì sẽ giải quyết ngay để kịp thời khơi thông nguồn lực", ông Tuấn nhấn mạnh. Về cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, đại diện Bộ NN-MT cho hay "đã lên tầm cao mới". Cụ thể, với hơn 100 triệu thửa đất của cả nước thì sau năm 2025 đã có hơn 62 triệu thửa đất có thông tin, trong đó có hơn 24 triệu thửa đất đã "đúng - đủ - sạch - sống", đủ điều kiện để chia sẻ thông tin cho người dân, DN khi muốn tiếp cận. Những dữ liệu này đồng thời cũng phục vụ công tác cắt giảm thủ tục hành chính khi người dân đi làm thủ tục.
Bình luận (0)